Dậy thì sớm ở trẻ do đâu?

Mặc dù Việt Nam được xếp vào nhóm các nước đang phát triển. Tuy nhiên, đời sống xã hội hiện nay đang có sự phân hoá, bao gồm cả những tầng lớp người dân đã phát triển, đang phát triển và chưa phát triển. Điều này khiến mô hình bệnh tật tại nước ta trở nên khá phức tạp.

Bs. Huỳnh Thị Vũ Quỳnh sau khoảng thời gian học bác sĩ Nội trú và làm việc miệt mài, hiện chị là giảng viên Bộ môn Nhi – Đại học Y Dược thành phố Hồ Chí Minh. Tham gia trò chuyện cùng chương trình “Chuyện đời – chuyện nghề”, chị đã có những chia sẻ về một lĩnh vực mới trong y khoa, đó là bệnh lý Nội tiết ở bệnh nhân nhi, với vấn đề nổi cộm hiện nay: “Dậy thì sớm ở trẻ”.

Theo BS. Quỳnh ngoài những bệnh lý nội tiết đã được biết như suy giáp, suy giáp bẩm sinh, tăng sinh tuyến thượng thận bẩm sinh. Cuộc sống hiện đại khiến tỷ lệ béo phì, dậy thì sớm, thiếu hormone tăng trưởng ở trẻ em ngày càng gia tăng. Trong đó, béo phì là vấn đề đáng quan tâm vì để lại nhiều hậu quả lâu dài.

Nhiều nghiên cứu cho thấy béo phì chính là một trong những yếu tố nguy cơ đưa đến tình trạng dậy thì sớm ở trẻ em, đặc biệt là những trẻ có chỉ số cơ thể lý tưởng (BMI) > 50. Khi dậy thì sớm, các hormone tăng trưởng kích thích xương phát triển, khiến trẻ phát triển chiều cao sớm hơn so với các bạn đồng trang lứa. Tuy nhiên, sau khoảng thời gian đó các đầu xương sẽ bị cốt hoá do đó xương không thể phát triển đến chiều cao đích và khiến trẻ sẽ thấp bé hơn các bạn. Bên cạnh đó, các yếu tố khác đến từ môi trường như hoá chất độc hại từ thuốc trừ sâu như DDT, polyphenol có trong các sản phẩm nhựa, hay những phim ảnh sách báo có yếu tố tình dục, cũng là nguyên nhân thúc đẩy quá trình dậy thì sớm ở trẻ.

Ảnh minh hoạ

Đối với văn hoá của người Việt Nam, ba mẹ – ông bà đều thích con/ cháu mình tròn trịa, mũm mĩm. Do đó, khi so sánh trên biểu đồ tăng trưởng, những đứa trẻ được cho là gầy, hầu như đều ở mức phát triển bình thường. Trong khi, những bé ba mẹ xem bình thường lại đang trở nên thừa cân và có nguy cơ béo phì. Thực tế, béo phì chẳng những có thể làm gia tăng nguy về tim mạch như thiếu máu cơ tim, nhồi máu cơ tim, mà còn dẫn đến bệnh lý nội tiết là đái tháo đường (tiểu đường). Nếu như trước đây, hầu hết các trường hợp đái tháo đường ở trẻ em là đái tháo đường type 1 (do thiếu insulin) khiến trẻ gầy yếu, thì hiện nay tỷ lệ trẻ mắc đái tháo đường type 2 (do thừa cân béo phì) lại ngày càng gia tăng.

Công việc của một bác sĩ Nội tiết tuy không quá tất bật và áp lực như các khoa bệnh Nhiễm, Hô hấp hay Tiêu hoá, vì bệnh lý Nội tiết không diễn biến theo mùa. Tuy nhiên BS. Vũ Quỳnh chia sẻ đối với những bệnh Nội tiết nhi, có khi bác sĩ phải điều trị từ lúc các bé mới chào đời, cho đến khi trưởng thành. Nếu việc chẩn đoán sai hay thiếu sót sẽ có thể dẫn đến nhiều hậu quả và thiệt thòi cho sự phát triển của trẻ. Cụ thể, trường hợp một bé gái, mắc chứng suy giáp bẩm sinh nhưng vì chẩn đoán và điều trị không đúng hướng, đến năm 18 tuổi bé chỉ cao 1 m và vẫn chưa biết nói. Cuối cùng, khi bà mẹ đưa con đi xin giấy chứng nhận trẻ chậm phát triển và được BS. Quỳnh thuyết phục điều trị suy giáp bé mới bắt đầu dần phục hồi. Mặc dù vậy, những di chứng do điều trị không kịp thời khiến bé gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống, nhưng chỉ cần bé biết cười cũng đã là niềm hạnh phúc đối với người mẹ.

Bên cạnh đó, việc điều trị không tiến triển, tình trạng thiếu thuốc hay kinh phí điều trị cao khiến bệnh nhân phải bỏ dở trong quá trình điều trị cũng là những áp lực vô hình khác đối với một bác sĩ Nội tiết. Có thể nói, những tâm tư tình cảm của một bác sĩ dành rất nhiều cho bệnh nhân của mình. Họ đặt áp lực và khó khăn của bệnh nhân lên vai mình, đồng thời xem đó là khó khăn của chính họ. Chúng ta hãy nhìn nhận khách quan để cảm thông và chia sẻ và đừng quá khắt khe đối với người thầy thuốc.

 

Ds. Nguyễn Hạ Quyên trích theo chuyện đời chuyện nghề